Thứ năm, 7/8/2003 | 09:00 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ năm, 7/8/2003 | 09:00 GMT+7

Bệnh luput ban đỏ hệ thống

Căn bệnh này thường gặp ở nữ giới tuổi sinh sản (trung bình 1 nam/14 nữ). Do bệnh có tỷ lệ tử vong khá cao (trước 1960, bệnh nhân sống không quá 5 năm, nay nhiều trường hợp sống hơn 20 năm), nhiều người cho rằng bị luput ban đỏ hệ thống là lãnh án tử hình. Thực ra, nếu được điều trị sớm, cuộc sống của người bệnh sẽ được đảm bảo.
xd

Tỷ lệ mắc luput ban đỏ hệ thống ở Việt Nam là 0,6-0,9%. Trong mấy năm gần đây, chỉ số này có xu hướng tăng nhanh vì mấy nguyên nhân sau:

- Tỷ lệ nạo, hút thai tăng (nhất là ở lứa tuổi 16-20); mỗi năm có 1,2 đến 1,5 triệu ca.

- Sử dụng hóa chất, thuốc bừa bãi.

- Nhịp sống khẩn trương, căng thẳng, có nhiều stress.

Luput ban đỏ hệ thống diễn biến theo nhiều đợt, đợt sau nặng hơn đợt trước, với các biểu hiện ở nhiều hệ cơ quan như da, phổi, tim, thận, huyết học... (vì vậy mới có tên là bệnh hệ thống). Một người được xác định là bị bệnh này nếu có ít nhất 4 trong 11 biểu hiện sau:

- Ban hình cánh bướm trên mặt.

- Ban dạng đĩa.

- Nhạy cảm ánh sáng.

- Viêm loét niêm mạc miệng.

- Viêm khớp không biến dạng.

- Tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng tim.

- Tổn thương thận (protein niệu, trụ niệu, creatinin cao).

- Rối loạn tâm thần kinh.

- Thiếu máu.

- Rối loạn miễn dịch.

- Phát hiện tự kháng thể (kháng thể kháng nhân).

Việc điều trị luput ban đỏ hệ thống nếu được tiến hành muộn, không đúng hướng, không có hướng điều trị lâu dài và tích cực phòng ngừa các cơn tái phát tại cộng đồng thì hiệu quả sẽ rất thấp; bệnh ngày một nặng, dẫn đến tử vong. Ngược lại, kết quả sẽ rất tốt nếu bệnh được điều trị sớm, tích cực, lâu dài, đúng hướng (áp dụng phác đồ đúng đắn tại bệnh viện, được theo dõi thường xuyên ở nhà, định kỳ làm các xét nghiệm và điều trị dự phòng tích cực, ngăn chặn các cơn tái phát).

GS Nguyễn Năng An, Sức Khỏe & Đời Sống

Gửi chia sẻ câu hỏi tư vấn tại đây hoặc về doisong@vnexpress.net
 
Chu kỳ kinh quá dài hay quá ngắn cũng gây khó khăn cho việc thụ thai và có thể dẫn đến hậu quả chung là vô sinh, hiếm muộn.
Được hợp tác bởi:
Những bệnh phổ biến như viêm amidan, viêm phế quản, nhiễm trùng tai... có thể gây ra mất thính lực về sau, theo một nghiên cứu mới tại Anh.
 
 
Về đầu trang