Thứ sáu, 9/12/2005 | 09:57 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ sáu, 9/12/2005 | 09:57 GMT+7

Dược thảo điều trị viêm tắc động mạch

Viêm tắc động mạch thường xảy ra ở tứ chi, nhất là chi dưới, biểu hiện lúc đầu là lạnh, sau đau dữ dội, lâu ngày sẽ hoại tử và rụng các đốt ngón tay chân. Nhân hạt đào, cây mẫu đơn, bạch thược... là những vị thuốc có thể hạn chế bệnh này.
g

Theo Đông y, nguyên nhân của bệnh viêm tắc động mạch là thận khí hư tổn, khí huyết suy kém gặp lạnh, thấp lâu ngày, ăn đồ béo ngọt, uống nhiều rượu mà sinh ra hiện tượng khí trệ huyết ứ, kinh mạch dần dần bế tắc, không nuôi dưỡng được tứ chi, gây hoại tử.

Các dược thảo điều trị bệnh này gồm:

Mẫu đơn: Có tác dụng chống kết tập tiểu cầu và ức chế sự đông máu rải rác trong mạch, ức chế sự phát triển các biến chứng của đái tháo đường trong đó có rối loạn về tuần hoàn máu, được dùng để dự phòng và điều trị các bệnh huyết khối tắc mạch. Ngày uống 6-12 g dạng thuốc sắc.

Đương quy: Có tác dụng chống đông máu và ức chế ngưng tập tiểu cầu. Đương quy có hiệu quả điều trị huyết khối não và viêm tắc huyết khối mạch máu, có thể do tác dụng ức chế ngưng tập tiểu cầu và ức chế giải phóng serotonin từ tiểu cầu.

Xuyên khung: Có tác dụng chống đông máu, làm tăng khả năng biến dạng của hồng cầu. Hoạt chất tetramethylpyragin ức chế kết tập tiểu cầu, làm tách rời tiểu cầu đã kết tập, dự phòng sự tạo cục đông máu ở động mạch, làm tăng lưu lượng máu ở động mạch vành, giảm huyết áp động mạch, trên lâm sàng có tác dụng tốt điều trị nghẽn mạch não. Xuyên khung được dùng trong các bài thuốc trị ứ trệ máu, viêm tắc động mạch, đau thắt ngực. Ngày dùng 6-12 g dạng thuốc sắc hay rượu thuốc.

Đan sâm: Dẫn xuất của hoạt chất tanshinon làm giảm kích thước của nhồi máu cơ tim cấp, thúc đẩy giãn nở những nhánh mạch vành, có tác dụng cải thiện trên điện tâm đồ. Đan sâm dùng trong các bài thuốc để tăng tuần hoàn máu, trị ứ máu, trị viêm tắc động mạch, đau thắt ngực, tức ngực. Ngày dùng 8-15 g dạng thuốc sắc.

Bạch thược: Được dùng trong các bài thuốc chữa bệnh về mạch máu như viêm mạch huyết khối, viêm tắc mạch, nghẽn mạch não. Ngày dùng 6-12 g dạng thuốc sắc.

Đào nhân (nhân hạt đào): Có tác dụng ức chế đông máu, dùng trong các bài thuốc chữa bế kinh, ứ huyết sưng đau, viêm tĩnh mạch. Ngày uống 4-9 g dạng thuốc sắc.

Hồng hoa: Có tác dụng giảm cholesterol máu, dùng trong các bài thuốc làm tăng tuần hoàn máu, chữa ứ máu có liên quan với viêm nghẽn mạch máu, mạch não, đau thắt ngực do bệnh mạch vành tim. Ngày uống 3-8 g, sắc hoặc ngâm rượu uống.

Các bài thuốc trong thời kỳ đầu và giữa của bệnh

Đông y gọi đây là giai đoạn hư hàn, khí huyết ứ trệ. Triệu chứng: Sắc mặt xanh, người mệt mỏi, thích ấm, sợ lạnh, đầu chi tê lạnh đau, da trắng, xanh, hay bị chuột rút, đi thì đau nghỉ thì đỡ (dấu hiệu đau cách hồi, nước tiểu trong, đại tiện lỏng. dần dần đau liên miên, đau về đêm nhiều hơn, màu da ở chi xanh nhợt, lạnh, đầu chi khô. 

- Thục địa, tang ký sinh, mỗi vị 16 g, đương quy, xuyên khung, bạch thược, đan sâm, ngưu tất, hoàng kỳ, xuyên huyện tử mỗi vị 12 g; Quế chi, đào nhân, hồng hoa, bạch giới tử mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang.

- Đương quy, cam thảo mỗi vị 20 g; kim ngân hoa, xích thược, qua lâu nhân, ngưu tất mỗi vị 16 g; huyền sâm, đào nhãn, mẫu đơn bì, đan sâm mỗi vị 12 g; binh lang, chỉ xác mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang.

- Huyền sâm, kim ngân hoa, bồ công anh, đan sâm mỗi vị 20 g; sinh địa, đương quy, hoàng kỳ mỗi vị 16 g; hồng hoa, diêm hồ sách, mỗi vị 12 g; nhũ hương, mộc dược, mỗi vị 8g cam thảo 4 g. Sắc uống ngày một thang.

- Kim ngân hoa 40 g; hoàng kỳ sống, đảng sâm, ngưu tất, thạch hộc mỗi vị 16 g, đương quy 12 g. Sắc uống ngày một thang. Nếu bệnh nhân đau nhiều do huyết ứ thì thêm: đan sâm 16 g, hồng hoa 8 g, xuyên khung 8 g, quế chi 6 g.

- Đảng sâm, bạch biển đậu, kê huyết đằng, ngưu tất, đan sâm, cỏ nhọ nồi mỗi vị 16 g; huyết dụ, trạch lan mỗi vị 12 g, quế chi 6 g. Sắc uống ngày 1 thang.

Giai đoạn hoại tử dấu hiệu nhiễm khuẩn

Đông y gọi đây là giai đoạn nhiệt độc, biểu hiện: sưng nóng tại chỗ, loét hôi thối, đau dữ dội, sốt, miệng khô, nước tiểu đỏ.

- Kim ngân hoa, bồ công anh mỗi vị 40 g, ké đầu ngựa 20 g; ngưu tất, ý dĩ, huyền sâm, sinh địa, đan sâm, thạch hộc mỗi vị 16 g; hoàng bá, vòi voi mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.

- Kim ngân hoa 40 g; huyền sâm, đan sâm mỗi vị 20 g; đương quy, thạch hộc, ngưu tất, hoàng kỳ, đảng sâm mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.

- Thuốc ngâm rửa: Kê huyết đằng, đào nhân, tam lăng mỗi vị 12 g; quế chi 8 g. Đun sôi kỹ, lấy nước ấm, ngâm ngày 2 lần.

Giai đoạn khí huyết đều hư (tương ứng với tình trạng kéo dài của bệnh)

Triệu chứng: Người mệt mỏi, hay ra mồ hôi, đau ít, vết loét không lành, tay chân lạnh.

- Kim ngân 40 g, ngưu tất, hoàng kỳ, đảng sâm, thạch hộc mỗi vị 16 g; đương quy 12 g. Sắc uống ngày một thang.

- Thục địa, bạch thược, đảng sâm mỗi vị 16 g; xuyên khung, bạch truật, hoàng kỳ mỗi vị 12 g, phục linh 8 g; cam thảo, nhục quế mỗi vị 4 g. Sắc uống ngày 1 thang.

- Đan sâm, hoàng bá mỗi vị 20 g; quy bản, ý dĩ, hoàng kỳ, đảng sâm, bạch thược, ngưu tất, đỗ trọng, miết giáp, sinh địa mỗi vị 16 g; trùng tiết, uy linh tiên, hồng hoa, đào nhân, mộc qua, xuyên khung, phòng kỷ, tần giao, độc hoạt, phục linh, hoàng cầm, đương quy mỗi vị 12 g; mã tiền chế, trần bì, tế tân, binh lang, quế chi mỗi vị 8 g; cam thảo 4 g. Nấu thành cao, chia thành nhiều liều nhỏ, uống 1-2 ngày.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

 

 

Gửi chia sẻ câu hỏi tư vấn tại đây hoặc về doisong@vnexpress.net
 
Lượng máu kinh mất đi quá ít hoặc quá nhiều, màu sắc thay đổi... đều là biểu hiện cho thấy bạn đã bị rối loạn kinh nguyệt.
Được hợp tác bởi:
Biến chứng khi mang thai, sinh nở, vi khuẩn gây ngộ độc trong thực phẩm, ruột thừa, cúm, sét đánh... đều có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của bạn. 
 
 
Về đầu trang