Thứ bảy, 27/8/2005 | 08:47 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |
Thứ bảy, 27/8/2005 | 08:47 GMT+7

Cây huyết giác

"Những người bị đả thương, ứ huyết, ứ máu tím bầm thường dùng cây huyết giác sắc uống hoặc pha với rượu để xoa bóp. Xin bác sĩ cho biết rõ hơn về loại cây này".

Trả lời:

Huyết giác còn gọi là cây xó nhà, cây dứa dại, cây giáng ông. Tên khoa học Pleomele cochinchinensis Merr. (Dracaena loureiri Gagnep.); thuộc họ hành tỏi Liliaceae. Vị thuốc huyết giác là chất gỗ màu đỏ, do một loại sâu hay nấm gây ra trên gỗ cây huyết giác già cỗi mục nát.

Huyết giác là một loại cây nhỏ, cao chừng 1-1,5 m, có thể tới 2-3 m, sống lâu năm. Thân phân thành nhiều nhánh. Cây nhỏ có đường kính chừng 1,6-2 cm, cây to có đường kính tới 20-25 cm. Lá hình lưỡi kiếm, trung bình dài 25-80 cm, rộng 3-4 cm tới 6-7 cm, cứng, màu xanh tươi, mọc cách, không có cuống. Lá rụng để lại trên thân một sẹo. Thường chỉ còn một bó lá tụ tập trên ngọn. Cụm hoa mọc thành chùm dài tới 1 m, đường kính phía cuống tới 1,5-2 cm trên có lá nhỏ, dài 15 cm, rộng 2 cm, phân cành nhỏ dài tới 30 cm. Hoa tụ từng 2-4 hoa gần nhau. Hoa nhỏ, đường kính 7-8 mm, màu lục vàng nhạt. Quả mọng hình cầu, đường kính chừng 1 cm. Khi khô có màu đen, hạt hình cầu, đường kính 6-7 cm.

Cây huyết giác thường mọc hoang ở các vùng núi đá xanh (Quảng Ninh, Nam Định, Hà Nam, Hà Tây, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh). Phải những cây già, đã chết và đổ nát mới có gỗ. Những cây đã thành huyết giác có màu đỏ hoặc có nhiều đám màu đỏ, mùi vị không có gì đặc biệt. Trong những chỗ màu đỏ, có cảm tưởng như do một loài sâu nào đục khoét gây ra. Chặt về phơi khô là được. Huyết giác hiện nay được thu mua để dùng trong nước và xuất sang Trung Quốc, nhưng cho đến nay chúng tôi vẫn chưa tìm được Đông y Trung Quốc dùng làm gì, với tên là gì. Tên huyết giác chỉ là tên các nhà Đông y Việt Nam thường gọi mà thôi.

Huyết giác còn là một vị thuốc dùng trong phạm vi nhân dân (chưa thấy được ghi trong một tài liệu nào), chữa những trường hợp ứ huyết, bị thương, máu tím bầm không lưu thông. Dùng cho cả nam và nữ. Đối với nữ, còn dùng khi kinh nguyệt bế. Liều dùng: Ngày 10-20 g dưới dạng thuốc sắc, ngâm rượu uống và xoa.

GS Đỗ Tất Lợi, Sức Khỏe & Đời Sống

Gửi chia sẻ câu hỏi tư vấn tại đây hoặc về doisong@vnexpress.net
 
 
 
Về đầu trang